Mặc dù trong thời đại này, lượng người không biết đọc viết trong xã hội chỉ còn là thiểu số, rõ ràng năng lực sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả vẫn chỉ thuộc về số ít. Phần đông chúng ta sẽ đều gặp khó khăn trong việc diễn đạt ở các mức độ khác nhau. Càng những vấn đề trừu tượng thì càng khó diễn đạt êm xuôi – thường chỉ có những người học nhiều, đọc nhiều, ngẫm nghĩ nhiều, có vốn từ và hiểu biết phong phú, có thị hiếu kiến thức tốt… mới có khả năng diễn giải những vấn đề trừu tượng phức tạp một cách mềm mại, dễ dàng, đi vào lòng người. Thế giới trong mắt người ở trình độ cao vốn dĩ có “độ phân giải” cao hơn hẳn những người ở trình độ thấp hơn. Trong khi đa số còn đang mù mờ không biết bản thân muốn gì, một số người lại có thể thoải mái phân tích vấn đề, giải thích cục diện, đưa ra quan điểm và thuyết phục người khác đồng ý với mình.
Tuy nhiên, ngay cả những người diễn đạt lưu loát nhất cũng có lúc gặp khó khăn, không phải bởi vì vấn đề họ cần diễn đạt quá phức tạp mà bởi vì nó có sức công phá mạnh. Một ý tưởng “nhạy cảm”, “có sức nặng” cũng không cần phức tạp gì: “Bà con ơi Đức Vua cởi truồng!” được phát ra từ miệng một đứa trẻ vô tri cũng có tiếng vang không thua gì một quả đại bác!
Khi một thông điệp “nhạy cảm” đã được phát đi, nó có thể tạo ra một cơn sóng thần vượt ra ngoài mọi tưởng tượng của chính tác giả. Những ý niệm kiểu này, khi còn ở trong đầu một người thì là của riêng người ấy, nhưng một khi đã phát ra, thì không còn là của họ nữa, mà vĩnh viễn thuộc về người nghe, những người sẽ hóng hớt, mổ xẻ, và rút ra những kết luận của riêng họ về câu chuyện và người kể chuyện. Kể cả khi họ đọc hiểu sai, dẫn tới hành động sai, thì tác giả có vô tội hay không? Chuyện một người trở thành nạn nhân của ý tưởng chính mình đưa ra như Thương Ưởng cũng không phải hiếm. Một tác giả có trình độ biểu đạt cực kì tốt có thể dựa vào kỹ năng của mình để định hướng phản ứng của độc giả ở một mức độ nào đó, nhưng chưa chắc đã ước lượng được sức công phá của nó. Cho nên mới nói “Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy”. Người có trình độ càng cao, có tầm ảnh hưởng càng lớn, lại càng phải thận trọng chuyện này – tới các nhà bác học vĩ đại nhất như Alfred Nobel, hay Albert Einstein thì đều cũng đã có lúc phải giật mình trước những “đứa con tinh thần” không còn là của riêng mình.