Có lẽ, nhiều điều tồi tệ trong đời là do đầu óc mình suy nghĩ quá nhiều, quá hỗn loạn. Những đau khổ xảy ra trong thực tế đa số mang tính tức thời: một cú đấm, cơn sốt hay một cơn đau nhổ răng. Đúng là chúng tồi tệ nhưng phần lớn không dai dẳng và đều có cách chữa lành. Chính những đau đớn tinh thần mới là thứ giết dần chúng ta. Mỗi khi có việc gì tệ một chút: thất nghiệp hay đổ vỡ một mối quan hệ, dù tác động thực của nó chưa đến ngay, não mình đã vội chìm trong cơn bão suy nghĩ và sợ hãi. Nó mới nhận 1 tín hiệu về tương lai đã vội sinh ra hàng trăm nghìn viễn cảnh kinh khủng chồng chéo nhau khiến cuộc sống lúc đó thành thảm họa. Thật cay đắng biết bao khi kẻ đạo diễn đứng sau bi kịch của đời mình lại là chính tâm trí của bản thân. 

Mình từng nói về từ “nhìn thấy” – nhìn bằng mắt và thấy bằng tâm trí. Đó cũng là một mối nguy khác, rằng cái thấy của mình là một việc cá nhân, bị tác động vô cùng bởi nhận thức của riêng mỗi người. Nếu tâm trí họ đã sẵn những hỗn loạn và bóng tối, cả thế giới mà họ nhìn thấy cũng tương tự dù trước mắt cảnh đẹp đến thế nào. Mỗi người nhìn cùng 1 cảnh nhưng lại thấy những điều khác biệt, thậm chí khác như thiên đường và địa ngục do cái thấy của họ đã sẵn thiên đường hoặc địa ngục. Điều này cũng tạo ra những mâu thuẫn khó hiểu khi mình thấy một điều đẹp đẽ nhưng người kia lại chê bai, chán ghét và ngược lại. Vấn đề là mình tưởng ai cũng sẽ thấy như mình vì đều cùng nhìn 1 cảnh, từ đó khó chịu khi họ không thấy thứ mình thấy. Con người ta chẳng hiểu và thông cảm cho nhau vì cùng nhìn 1 thứ mà lại thấy khác nhau.

Những dòng suy nghĩ bất tận là nguồn cơn của khổ đau. Một số lúc, cơn đau vật lý lại là liều thuốc đắng làm dịu sự đau khổ này một lát. Cơn sốt, bệnh tật tạo ra cơn đau dữ dội làm choáng váng đầu óc. Nó vô tình làm ngưng chiếc máy dệt suy tư để tâm trí được nghỉ ngơi. Giống như 1 người bị cầm tù trong mớ tơ nhện khổng lồ lỡ rơi vào biển lửa, mình cảm nhận được sự giải thoát và đau đớn cùng lúc. Điều này nhắc nhở mình về tác hại của suy nghĩ và  tầm quan trọng của ngắm nhìn hiện tại. Như lần mình sốt và đau đầu giữ dội, mình đến công viên và ngắm nhìn trong yên lặng một bông hoa dưới đêm trăng.  Hiếm khi nào đầu mình trong vắt như vậy và ngắm nhìn một thứ bằng mọi thứ mình có. Thật tuyệt thấy được vẻ lung linh lạ kỳ của nó –  một vẻ đẹp chân thực, đầy ắp và vừa vặn – thứ luôn bị những dòng suy nghĩ nhấn chìm.

Hi mọi người,
Mấy hôm nay toàn tin lũ và Hà Nội ngập khắp nơi. Mình thì bỏ phố về biển được 5 năm rồi nhưng vì bạn bè người thân hầu như là ở Hà Nội nên trên mạng xã hội vẫn tràn ngập tin về Hà Nội. Mình chỉ mong mọi người được bình yên và khỏe mạnh, như thế là rất ổn rồi.
Mình với người yêu mình đang sống chung với nhau. Cậu ấy cũng bỏ Hà Nội để theo mình về biển. Thế nhưng mình biết cậu ấy rất mong ngóng được quay về nơi đó. Cậu kêu rằng đồ ăn không hợp, tiếng nói không hiểu gì, con người cũng xa lạ. Mình cố gắng để chăm sóc và tạo không gian thoải mái với cậu ấy, nhưng cứ lúc giận nhau là mình cảm thấy như mình đang ép cậu ấy vào đây vậy.
Ngày xưa mình chỉ mong hai đứa có công việc rồi tối về bên nhau bình yên vậy là đủ. Thế nhưng gần đây khi sống cùng nhau và thấy rằng sau giờ làm, cậu ấy chỉ biết nằm ườn lên giường ngồi chơi game và xem youtube thì mình cũng khó chịu. Mình cũng đi làm (lương cao hơn cậu ấy kha khá) nhưng tối về vẫn lao đi chợ, nấu cơm rồi dọn dẹp nhà cửa. Làm xong thì lại ngồi học tiếng để nâng cao năng lực. Còn cậu ấy thì nghề nghiệp đang bão hòa, bị layoff nhiều lần rồi và không biết khi nào thì bị layoff tiếp nữa. Nhưng nói ra thì hai đứa khó chịu và cãi nhau. Mình cũng cảm thấy mình thay đổi rồi. Ngày xưa mình nghĩ chỉ cần hai đứa vui vẻ bên nhau là được (nói một cách công bằng thì cậu ấy vẫn rửa bát, phơi quần áo khi mình yêu cầu, chỉ là không chịu học hành nâng cao năng lực gì cả. Cậu ấy cũng có nhiều tiền tiết kiệm hơn mình dù lương thấp hơn mình (gia đình cậu ấy cho).
Thế nên đôi khi mình nghĩ, bản thân mình cũng phải nhìn lại mình, để biết rằng mình có đối xử công bằng với cậu ấy không, hay chỉ luôn đòi hỏi về phía mình. Nhìn lại thì có vẻ là không công bằng nếu mình cáu hay khó chịu vì cậu ấy không chịu học hành, nâng cao chuyên môn hay gì đó nhỉ?
Cuộc sống không biết được là dài hay là ngắn. Thế nên hãy nhớ luôn yêu thương nhau nếu có thể nha.

Xin chào Absolute!

Vậy là tại mình hết, mình chểnh mảng quá, không vào để viết chăm như trước.
Mỗi lần bút viết xuống, phím gõ ở đây, là những ý tưởng nảy nở.
Mình gặp một người, y như trong truyện mà Nguyễn Ngọc Tư viết ấy.

Mình dừng xe bus ở xa lộ, bắt grab để đi vào một nhà người bạn, thì đang cầm điện thoại chưa kịp bắt, có một anh đi tới và hỏi, có đi thì anh chở đi. Không mặc áo xe ôm công nghệ, không có vẻ là chuyên làm xe ôm đâu. Mà cũng nói chuyện bình thường vậy đó. Mình không phát ra một chút đề phòng nào, mình ok đi luôn.
Anh ý chở mình tới nhà bạn, mình nói chuyện 45phut rồi ra ngoài anh ấy chở về.
Tới nhà mình, mới chuyển khoản và xin số điện thoại, anh ấy hẹn lần sau có muốn đi đâu, có thể hú anh ấy. Tiện đường thì đi làm cùng.

Đó là một người lặng lẽ, tình cảm, và nhẹ nhàng. Mình thấy được cả sự bình yên sau xe của anh ấy.
Và nảy sinh trong đầu rằng: một người như vậy rất vĩ đại.

ghi lại tại Saigon, ngày 25 tháng 9, 2025.

Thỉnh thoảng mình mơ một giấc thật hay, chân thật sống động, không mở đầu không kết thúc, rất nhiều cảm xúc dù không nhớ gì, thường mang mác một trong hai kiểu. Kiểu đầu như là: cố chút nữa thôi, gần được rồi; mà không biết đã cố gì, gần được gì vậy. Kiểu hai thì giống như một bộ phim câm nhạt nhẽo, trong phim đó minh đang làm một hành động không tên, nhưng hồ hởi và tươi mới. Giống như hôm nọ mơ đang chơi bóng rỗ trên sân trường.

Giấc mơ thứ nhất thì giờ không còn nhiều, thời tuổi trẻ vĩ cuồng chắc mơ giấc này nhiều hơn, kiểu những giấc mơ vĩ đại như thánh kinh, nếu kể lại cho người đời thì chắc họ khóc ngất lên được. Vĩ đại là thế nhưng lúc tỉnh thì quên mất.

Giờ thì thường mơ giấc thứ hai, nhất là các giấc ngủ trưa ngắn ngủi. Những giấc mơ kiểu này tuy vô nghĩa mà ám ảnh, như giấc mơ chơi bóng rổ ở trên, cùng là bầu trời buổi chiều với nắng đỏ vàng cam mà ở trong mơ nó trong trẻo. Lúc ngủ dậy nhớ cái bầu trời đằng xa lúc đang ném quả bóng lên.

Về sau, mình nhận ra những giấc mơ tiệm cận thiên đường như này là do chất kích thích tác động lên hệ thần kinh. Rượu, bia, cà phê, hay thậm chí hormone… giống như chất bôi trơn, làm mọi thứ có vẻ mơ màng và vĩ đại hơn cái thực có. Những giấc mơ này giống như là hệ quả của việc đi đường xa mà phải nghỉ để uống nước, và như mình sẽ uống nước ngọt, cafe, chỉ để phấn chấn hơn và tiếp tục cuộc hành trình.

Phần lớn chúng ta ở cuộc đời này sẽ phải vật lộn để tìm đường đi, vốn không phải lúc nào cũng rõ ràng.

Em sinh ra trong một gia đình gọi là không có của ăn của để, chỉ có mảnh đất nhỏ của cụ nội để lại, nhưng mà vì vài lý do phải bán luôn mảnh đất duy nhất này, giờ gia đình phải đi ở thuê. Ba mẹ thì cũng không biết chữ, công việc chính là làm thuê sống qua ngày. Em có thằng anh lầm lỡ, để lại đứa con mới sinh cho ba mẹ em nuôi, vợ nó thì bỏ đi biệt tăm, nhỏ em gái của em thì cũng không học hành, không nghề nghiệp gì, nó lấy chồng có con xong hai vợ chồng nó cũng li dị, giờ ôm nuôi đứa nhỏ mà không có thu nhập, hiện tại cũng là ba mẹ em nuôi.

Đến những năm dịch thì ba mẹ em vỡ kế hoạch lòi ra thêm một thằng cu nữa, tổng cộng phải nuôi ba đứa nhỏ. Hiện tại thì có mỗi mình em là có sự cố gắng duy nhất trong nhà, hồi xưa không có tiền đi học đại học phải bỏ học một năm, đi làm chân tay cảm thấy rất mệt mỏi. Sau đó em quyết tâm đi học thì cũng trầy da tróc vảy mới ra trường được. Sau khi ra trường thì đi làm văn phòng cũng được hơn 3 năm nay, lương chỉ ngót nghét được hơn chục củ tý. Thực sự là lương này không đủ chi tiêu hàng tháng, mà còn phải gồng gánh phụ giúp gia đình nữa. Ba mẹ em thì không hiểu điều này lắm, hằng tháng đều gây áp lực mỗi lần mà em gửi tiền trễ làm em gần như kiệt quệ về tinh thần.

Xung quanh em các bạn Genz rất giỏi, thu nhập cũng cao hơn em nhiều, vì vậy mà em cũng muốn đi học thêm để nâng cao trình độ nhằm tăng thu nhập, nhưng thực sự số tiền làm hàng tháng ra không đủ gửi về nhà thì làm sao có thể dành dụm được. Em cũng sắp chạm độ tuổi 30 rồi, giờ cảm thấy mệt mỏi và tương lai đen kịt, chắc không lấy vợ nổi.

Người yêu minh làm ở công ty cũng tầm 3 4 năm rồi. Dạo gần đây có một chị đồng nghiệp ( gần 30, có người yêu rồi) hứng thú kỳ lạ với người yêu mình.

Ban đầu thì chỉ kiểu thả thính vu vơ: gọi người yêu mình là “bạn”, uống ké nước, cười cười nói nói. Mình biết nhưng không làm gì, chỉ là mình khó chịu thôi. Sau thì… level up: xin được số đt rồi nhắn tin. Ban đầu nói chuyện công việc, sau thì hỏi han tâm sự. Người yêu mình thấy phiền, không trả lời. Vậy là chị lại chạy qua Facebook, tiếp tục nhắn tin, thậm chí gửi cả ảnh.

Chưa hết, khi biết mình hay nấu cơm mang cho người yêu, chị cũng bắt đầu mua đồ ăn đồ uống cho anh ấy. Mua hẳn vape luôn. Rồi còn lén coi lịch để “tình cờ” gặp. Người yêu mình phải đổi chỗ làm rồi block chị kia. Chắc cũng do mình nói nhiều quá.

Chuyện kì lạ nhất là chị ấy khóc khi người yêu mình đổi chỗ làm. Khóc thật giữa công ty luôn. Đúng là chuyện thật như đùa. Chị ấy cũng gần 30 rồi chứ không phải còn trẻ gì.

Mình kể ở đây cho nhẹ lòng, mình cũng không biết đã làm đúng hay sai nữa.

Cũng ít người viết nhỉ. 1 tháng mình mới quay lại mà thấy có vài bài viết thôi.

Mình là cái đứa mà làm ở 1 chỗ 5 năm rồi vẫn mơ ước đi du học ở Bắc Âu đây. Dạo gần đây đọc được một bài về du học làm mình nổi hứng lên muốn đi (vì thực ra giờ đi là dễ nhất, có chút tiền và nhiều kinh nghiệm, cũng đủ hiểu mình hơn). Thế nhưng người yêu mình và gia đình mình không muốn mình đi, mình thì lại không nỡ bỏ họ lại. Thế nên mình đang cân nhắc có nên học thạc sỹ trong nước mà có chương trình liên kết với nước ngoài để được đi khoảng 6 tháng gì đó cho bõ ước mơ không.

Hôm qua là sinh nhật lần thứ 32 của mình rồi, nay mọi người mua bánh và tổ chức, nhưng mình không hề thấy vui. Mình chỉ muốn những người có quan hệ không thân thiết với mình không biết tới ngày đó thì tốt. Cái mình cần là anh người yêu mua cho bó hoa, món quà, chở mình đi ăn (tất cả hôm qua đã làm rồi) là mình hạnh phúc lắm rồi. Càng già càng khó tính.

Mình đang làm cho một công việc cho người Hàn. Mình có thể nói tiếng Hàn và nghe tiếng Hàn tính là trôi chảy nhưng bản thân thì chỉ thích tiếng Anh. Mình hay đọc sách tiếng Anh rồi ghi lại từ mới để học, kể cả là những cuốn sách khó như sách về y tế hay khoa học. Nay tự dưng mình nghĩ rằng sao mình không bỏ quách chỗ này để sang chỗ nào dùng tiếng Anh cho đúng sở trường nhỉ? Thế nhưng mình 32t rồi và sợ không thi đỗ (dù chưa thử). Và dù thử thì để có được mức lương tương đương mình sẽ phải quay về HN, không được sống ở đây nữa. Và như thế thì mình không muốn. 32 tuổi rồi nhưng có vẻ vẫn cái gì cũng sợ.

Chắc sẽ phải bắt tay vào cái vụ đi học liên kết sớm thôi chứ cứ đà này trước khi đi được, mình sẽ già mất. Thế mà đôi khi ngồi chơi không vì nghĩ mình không có gì để làm =)) Bác nào biết chương trình nào hay hay thì giới thiệu em với nha.

Chà, có vẻ sắp tới sẽ là lần đầu tiên mình thất nghiệp một cách thật sự. Những lần thất nghiệp trước, mình vẫn mang danh tính sinh viên nên nó vẫn nhẹ nhàng dù vẫn nhiều cay đắng. Cái cảm giác mình kém cỏi là khó lòng tránh khỏi. Mà mình kém cỏi thật với một cơ thể yếu ớt, một tinh thần bạc nhược dễ từ bỏ và thái độ thờ ơ. Gần 10 năm trời sống trong cảm giác thất vọng với sự nỗ lực của mình trong quá khứ nhưng thất vọng xong lại bỏ bê hiện tại để rồi nó thành một phần tiếp của cái quá khứ đáng buồn ấy. 

Đời người như một ngọn nến cháy không ngừng, hoặc âm ỉ hoặc bùng nổ. Mỗi phút, mỗi giây thiêu đốt nó lại rút ngắn đi, để lại khói và tro. Chẳng nói làm gì nếu mình đốt lên được ngọn lửa của khát khao, sống sao cho mình thấy xứng đáng và tự hào. Thay vào đó, mình chọn cách cháy một cách lụi tàn, lay lắt, để những tia lửa tan biến vào hư vô và chỉ giữ lại cho mình tro tàn vô dụng, bốc mùi. Học tập, làm việc, tập luyện ư? Không, mình chọn chơi game, đọc sách – những việc “giết thời gian”. “Giết thời gian” chưa bao giờ nổi bật nghĩa của nó đến vậy, mang trong nó sự cay đắng và hối hận đau khổ đến thế. Đời người chính là một chuỗi thời gian, giết thời gian khác gì giết chính mình bằng một con dao cùn. Tại sao thế nhỉ, tại sao cứ trơ mắt nhìn chính tay mình cứa dần mòn từng phút giây còn sống?

Sau 3 năm sống trong môi trường nhà nước, tôi nhận ra cái khiến mọi thứ ở đây trì trệ và lạc hậu. Sách vở báo chí ngoài đời mô tả nó bằng từ quan liêu, cồng kềnh hay cứng nhắc. Tôi thấy những từ này không thật sự diễn tả được vấn đề. Tôi tạm gọi nó là “định lý cốc nước chè”.

Giống như mọi công chức viên chức mới vào, tôi có nhiệm vụ pha nước chè trước mỗi buổi họp. Ở đây ai cũng từng pha nước chè, và cái vinh dự này hiện đang bàn giao cho tôi. Tuy nhiên tôi quan sát được rằng không phải ai cũng thích nước chè, cũng thích thói “chè nước”, tức là trước mỗi cuộc họp luôn có vài phút cà kê, chém gió, mời chào nhau. Tuy nhiên người ta, nhất là người có chức có quyền, ngại thay đổi. Lí do thì đơn giản: Họ từng là người pha nước chè, giờ đến vai là người được uống, được mời, thì dù không thích cũng cứ kệ đấy. Ít nhất là họ cũng không thiệt gì.

Cái tâm lý này, tạm gọi là tâm lý “cốc nước chè”, khiến cho mọi sự lạc hậu hay thậm chí sai trái, dù có thể chính người trong cuộc nhìn ra, nhưng họ không thay đổi, bởi vì họ nghĩ: ta đã khổ, đã đóng thuế bao nhiêu năm, giờ mới được sướng, mới bắt đầu thu thuế, thì tội gì bỏ. Nó giống như mình trẻ tuổi mới vào, phải làm những thứ không tên, những thứ không còn hợp lý, không phục vụ mục đích số đông, trong 20 năm, chỉ để 5 năm tại vị cuối cùng được “phục vụ”. Nó xuất phát từ cơ chế xin cho, từ sự ban phát lợi ích theo nhóm, từ sự đánh giá theo thâm niên… Nó không dựa trên sự công bằng, và chắc chắn không có cái gọi là đồng cảm, thấu hiểu, hay chia sẻ công việc vì cái chung ở đây.

Nghĩ rộng ra thì thế hệ cũ cũng thế. Có rất nhiều cái đã cũ, đã lạc hậu, những câu hát lời ru đã hết hạn sự dụng, nhưng vẫn được dùng, được duy trì, chỉ vì đơn giản thế hệ cũ muốn “thu thuế”. Kiểu: tao nuôi mày khổ lắm rồi, giờ mày phải như thế để trả ơn tao. Cũng chẳng phải “như thế” thì thế hệ già, những ông bà bố mẹ chúng ta sẽ sướng hơn vui hơn đâu. Trong nhiều trường hợp là sự cố chấp và phần nào đó chịu đựng đã tích tự từ xưa, giờ đông rắn lại thành cái bảo thủ. Giống như hồi xưa họ khổ vì phải phục vụ thế hệ trên họ, giờ họ chờ đợi cái sung sướng dạng “cốc nước chè” từ thế hệ con cháu.

Xã hội bây giờ thay đổi rất nhanh, 20 năm ngoảnh mặt cái thì tri thức mấy cũng thành người lạc hậu. Những mối quan hệ xã hội kiểu “cốc nước chè” 20 năm như này sẽ dần không còn chỗ đứng. Cái khổ là chúng ta chính là thế hệ chuyển giao. Vẫn phải rót nước chè, rửa chén… rồi căn dặn lòng mình là sau về già sẽ bỏ cái này đi cho con cháu được nhờ.

Hôn nhân và tình yêu

Lược dịch từ The World Historical Transformation of Marriage, tác giả Stephanie Coontz. 

Trong suốt hàng ngàn năm, hôn nhân chủ yếu không phải để đôi lứa yêu nhau được đến với nhau, mà là một cách để đánh dấu những đứa trẻ thành “người trưởng thành” và sắp xếp những “người trưởng thành” đó vào một vị trí trong xã hội. Nó là cách để tích lũy tài sản, tạo dựng mối quan hệ, phân chia công việc, đồng thời xác định quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên. Vì thế, nhu cầu cá nhân, đặc biệt là của phụ nữ và trẻ em, thường bị xem nhẹ. Thời xưa, cưới vợ gả chồng quan trọng ở chỗ “kiếm được thông gia tốt” hơn là tìm một người tâm đầu ý hợp.

Ở tầng lớp giàu có, hôn nhân là công cụ chính để củng cố quyền lực và của cải. Của hồi môn, sính lễ hay mối quan hệ chính trị đều là những khoản đầu tư lớn của những dòng họ danh giá. Ngay cả giới trung lưu cũng coi việc gả cưới là cách chuyển giao tài sản, nghề nghiệp, quan hệ xã hội hay công cụ làm ăn giữa các thế hệ. Đối với đàn ông, hôn nhân thường là khoản bảo hiểm lớn nhất. Người vợ hay đứa con sẽ là người chăm sóc anh ta lúc về già hay xa cơ lỡ vận. Với phụ nữ, chọn được chồng tốt gần như là quyết định quan trọng nhất trong đời. Chọn đúng thì thành nữ chính tiểu thuyết, chọn không đúng lắm thì thành người phụ nữ truyền thống của gia đình.

Với nông dân hay giai cấp bần nông, hôn nhân cũng mang tính “làm ăn”, chỉ khác ở quy mô. Người ta băn khoăn: ruộng nhà anh ấy có gần ruộng mình không, gia đình bên kia có mối quan hệ tốt với hàng xóm không, thông gia này có giúp được gì không, hay lại chỉ thêm phiền? Bởi lẽ, để có thể sống sót trong thời kì phong kiến, nơi một năm mất mùa là đủ để cả gia đình chết đói, thì tình cảm hay tính cách cá nhân sẽ không quan trọng bằng khả năng tháo vát hay kỹ năng lao động.

Dù giàu hay nghèo, hôn nhân là dấu mốc quan trọng để một đứa trẻ được xã hội xác nhận sự trưởng thành và nhận được sự “tôn trọng” từ xã hội. Nhưng đừng ngây thơ, hôn nhân ngày ấy còn là công cụ để người lớn tận dụng sức lao động của con cái, người già tận dụng sức lao động người trẻ, tập thể tận dụng sức lao động cá nhân.Thêm một đứa con dâu (hay rể) là thêm người lao động “miễn phí”. Cũng đúng thôi, muốn được tôn trọng thì phải đóng góp, phải làm, phải cống hiến.

Còn tình yêu ư? Thật lòng mà nói, tình yêu là lý do tệ nhất để cưới nhau. Người ta mong rằng sau khi cưới sẽ phát sinh tình cảm, biết sống “có tình có nghĩa”. Cha mẹ đôi khi cho người con quyền từ chối nếu quá ghét đối phương, nhưng không ai đặt tình yêu làm trọng tâm. Ly hôn, nếu có, thường vì muốn đổi sang thông gia khác ngon hơn, hoặc vì chưa có con, chứ ít ai chia tay vì “hết yêu”.

Từ thế kỷ 17, một loạt thay đổi về chính trị, kinh tế và văn hóa bắt đầu làm lung lay những chức năng cũ của hôn nhân, đồng thời đặt dấu hỏi về quyền lực của cha mẹ, các tầng lớp ưu tú hay chính quyền trong việc kiểm soát đời sống cá nhân,  bao gồm cả chuyện cưới hỏi. Đến thế kỷ 18, lý tưởng mới “kết hôn vì tình yêu” lan rộng khắp Tây Âu và Bắc Mỹ, trở thành cuộc cách mạng thực sự.

Từ đây, các cặp vợ chồng được kỳ vọng dành nhiều tình cảm cho nhau và cho con cái hơn là cho họ hàng hay xã hội. Hôn nhân không chỉ để duy trì dòng tộc hay phát triển xã hội mà trở thành một mối quan hệ riêng tư, gắn bó và đầy tình cảm. Dù chưa giống quan niệm ngày nay rằng vợ chồng phải là “bạn thân và người tình” của nhau, nhưng sự thay đổi quan niệm này đủ ra gây ra những xáo trộn lớn.

Ngay lập tức, nhiều người đương thời nhận ra rằng lý tưởng mới có thể làm đảo lộn xã hội. Khi tình yêu được xem là lý do chính để cưới, thì ly hôn là một quyền chính đáng cho những gia đình không còn yêu nhau. Thậm chí, những lời kêu gọi đầu tiên về việc hợp pháp hóa đồng tính luyến ái cũng xuất hiện vào cuối thế kỷ 18, từ chính những người ủng hộ hôn nhân xuất phát từ tình yêu. Giai cấp cầm quyền thì lo ngại: ngay cả khi hôn nhân ổn định, giá trị mới này cũng khiến đôi vợ chồng “quá bận tâm đến nhau”, bỏ bê nghĩa vụ đối với xã hội.

Nói cách khác, những giá trị mà chúng ta ngày nay thường coi là “truyền thống” của hôn nhân, ví dụ như tình yêu, sự gắn bó, sự riêng tư, thật ra mới xuất hiện gần đây và được coi như cách mạng về nhận thức. Chúng đã trao cho hôn nhân sức nặng cảm xúc to lớn, nhưng đồng thời cũng gieo mầm cho sự mong manh của nó. Chính những điều làm hôn nhân trở thành một mối quan hệ quý giá và cũng là những yếu tố khiến nó trở nên dễ tan vỡ. Hôn nhân dần trở thành lựa chọn, chứ không còn là điều bắt buộc.

Trong nhiều thập kỷ gần đây, người ta vẫn tranh luận tại sao “hôn nhân suốt đời” lại bắt đầu rạn vỡ từ thập niên 1970. Phe tự do cho rằng nguyên nhân là do kinh tế – xã hội thay đổi; phe bảo thủ thì đổ lỗi cho sự suy thoái giá trị. Nhưng theo tác giả Coontz, câu hỏi thật sự không phải là “tại sao nó đổ vỡ ở thập niên 1970”, mà là “tại sao nó không đổ vỡ ngay từ thập niên 1790”, khi hôn nhân xuất phát từ tình yêu vừa ra đời.

Coontz không cho rằng hôn nhân sẽ biến mất. Tuy nhiên, bà khẳng định hôn nhân sẽ không bao giờ lấy lại vị thế tối cao của nó như đã từng. Ngày nay, luật pháp ở nhiều quốc gia phương Tây (và một số nơi khác) đã xóa dần ranh giới giữa người kết hôn và người không kết hôn. Các cặp đôi sống chung cũng có nhiều quyền lợi và nghĩa vụ giống như vợ chồng hợp pháp. Ngược lại, người đã kết hôn nhưng muốn chia tay thì không còn bị ràng buộc bởi luật pháp hay áp lực xã hội như trước.

Các học giả gọi hiện tượng này bằng nhiều tên: “phi thể chế hóa hôn nhân”, “phi pháp hóa hôn nhân”, hay thậm chí “giảm trù hôn nhân” (demarriage). Coontz thích ví nó giống như việc tách tôn giáo khỏi nhà nước: khi một tôn giáo không còn được nhà nước ưu ái đặc quyền, tôn giáo không biến mất mà lại nảy sinh thêm nhiều giáo phái và nhóm mới. Hôn nhân ngày nay cũng vậy: khi giấy đăng ký kết hôn không còn là điều kiện duy nhất để được xã hội “tôn trọng”, nhiều hình thức hôn nhân mới xuất hiện và được thừa nhận.

Theo Coontz, các nhà sử học thường dè dặt khi dùng chữ “cách mạng” cho những biến đổi xã hội, vì hầu hết đều có gốc rễ sâu xa và vẫn còn nhiều sự tiếp nối với quá khứ. Nhưng lần này thì khác: bà tin rằng chúng ta đang sống giữa một cuộc chuyển biến lịch sử toàn cầu về hôn nhân và gia đình. Mọi thứ thay đổi nhanh đến mức khó phân biệt đâu là đặc điểm của một hệ thống mới, đâu chỉ là biểu hiện tạm thời. Nhưng có một điều chắc chắn: hôn nhân sẽ không còn như đã từng nữa.

Dù tốt hay xấu, mối quan hệ giữa hôn nhân với xã hội đã thay đổi tận gốc, và trải nghiệm mỗi cá nhân về hôn nhân cũng vậy. Thay vì tranh luận xem “mô hình gia đình chuẩn” phải thế nào, nhiệm vụ quan trọng hiện nay là làm sao để hỗ trợ nhiều dạng quan hệ gắn bó khác nhau, giúp chúng phát huy điểm mạnh và hạn chế những bất cập.